Bạn chưa chọn câu trả lời
Biểu quyết thành công
Biểu quyết thất bại

Miếu Đại Trung – di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu về truyền thống thượng võ của Bắc Ninh

Nguồn tin: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

  Ngày 09/01/2019
  • 41
  • 0

Phần 2 và hết:

Thứ ba, Miếu Đại Trung lưu giữ nhiều hiện vật gốc có giá trị, thể hiện rõ tinh thần thượng võ của vùng Kinh Bắc.

Đó là gia phả, sắc phong, văn cúng giỗ của họ Nguyễn Đức. Đặc biệt là các hiện vật bằng đá.

Phía ngoài sân: Nơi hành lễ có chân cột cờ, các đồ tế khí bằng đá được chạm khắc tinh vi, tiêu biểu của thời Lê Trung Hưng. Hai bên bài trí các con vật bằng đá đăng đối nhau. Từ ngoài vào, đầu tiên là đôi chó đá cao 90cm với tư thế ngồi chầu, dáng vẻ hiền từ, vững chãi. Tiếp đến là đôi voi đá cao 117cm dáng phủ phục. Sau đó là đôi ngựa đá cao 150cm, được chạm đầy đủ yên cương, chuông nhạc. Hàng thứ tư từ ngoài vào là Đài Kính thiên cũng bằng đá, hình trụ, vuông bốn mặt có khắc 4 hàng chữ Hán với nội dung: “Trung với vua như giọt sương, sự nghiệp nhà vua dài như sông núi, phù giúp nước lòng son tựa như sắt, công danh như đá khanh tương, có hàng nghìn bày quân đi đến đâu ầm ầm đến đó, tiếng tăm lừng lẫy...”. Một chiếc thống đá có đường kính 130cm, xung quanh khắc hình cây cỏ, mây, nước, và bốn chữ “Thọ” ở bốn phía. Bên trong miếu có cây hương bằng đá hình đài sen, bốn phía khắc hoa, mây, lá và chữ Hán với nội dung: “Đức lớn dương cao thực không thể mất/Lễ dâng tiến đủ đầy suốt cả bốn mùa/Tinh linh hiển hách khí dương cao mãi/Uy oai giữ vững biên phương ngàn năm còn mãi mãi”. Một ban thờ cũng bằng đá, một tấm đá nguyên khối gắn trên tường với ba chữ Hán “Đại Trung Miếu” được khắc rất tinh xảo. Ngoài ra, còn có đôn bằng đá hình bán nguyệt, sấu đá, cột đồng trụ.

Tất cả những hiện vật “thể khối” trên cơ bản còn nguyên vẹn qua thời gian. Những họa tiết rõ nét, uyển chuyển của những bàn tay thợ điêu khắc đá lành nghề mặc dù đã trải qua hơn 300 năm tuổi.

Miếu Đại Trung được xây dựng trong bổi cảnh chế độ phong kiến suy yếu ở thế kỷ XVII, nên nền nghệ thuật cổ truyền có dịp lên ngôi, các kiến trúc thế tục cũng như tôn giáo nói chung, Miếu Đại Trung giai đoạn này thể hiện rõ nét màu sắc của nghệ thuật dân gian, sự sáng tạo của những tay thợ còn rõ nét đến ngày nay, nó phản ánh khát vọng đời thường, tự do, nhân tính của con người, rất gần gũi với đời sống nhân dân.

 

Hương án thờ trong miếu Đại Trung (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Bằng kỹ thuật chạm khắc đá rất tinh sảo, đẹp mắt, thống nhất trong từng linh vật, sự hài hòa từng đường nét và biến hóa phong phú của các chủ đề, nhưng không quá cầu kỳ, sang trọng, đôi khi chỉ mang tính diễn tả. Tính chất khoáng đạt, gắn bó bổ trợ cho kiến trúc, chặt chẽ nhưng biến hóa, sáng tạo về quy tắc tạo hình, không gò bó, thể hiện sự tỉ mỉ. Các họa tiết thể hiện sự huyền bí song trông lại rất hiện thực nhờ kỹ thuật tuyệt hảo của các nghệ nhân. Đây là một trong những giá trị nổi bật nhất của Miếu Đại Trung mà không địa phương nào có được.

 

Cây hương đá thời Lê trong hậu cung miếu Đại Trung (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Thứ tư, Miếu Đại Trung - nơi lưu truyền những câu chuyện cảm động về chí khí lẫm liệt của các tướng công cho các đời con cháu mai sau.

Miếu Đại Trung không chỉ là nơi thờ những võ quan cao cấp. Với gia phả để lại, các đời con cháu của dòng họ Nguyễn Đức có thể tự hào về chí khí lẫm liệt của các Quận công được thờ tại Miếu.

Trong gia phả còn ghi lại chuyện tỉ thí võ công của Quế Quận công trước sự chứng kiến của chúa Trịnh như sau: “Một ngày, chúa Trịnh ngự ở Trại Các, triệu các quan lại tập mã mâu. Duy một ông Trung Quận công giỏi việc mâu. Các quan võ không ai dám cùng đấu võ. Bấy giờ, Quế Quận công cư ưu tại gia, vua triệu cụ đến kinh khảo võ. Cụ lên ngựa, múa mâu như bay, mắt người không trông kịp. Chưa đầy một hiệp, cụ đã đưa tay ôm Trung Quận công vào lòng và để trên mình ngựa chạy ba vòng rồi ném xuống sân Các. Người xem trông đều sợ hãi. Vua vỗ tay cười nói to: Thế mới là “Thiên bồng tróa quỷ”. Sau đó, vua rất mực yêu mến cụ, ai gièm pha gì vua cũng không nghe. Con trai cụ đều giữ việc binh, đầu cửa công hầu, hiển vinh không ai sánh kịp”.

Với Hùng Quận công Nguyễn Đức Điện, gia phả còn lưu truyền việc cụ dùng mưu giết hổ trừ họa cho dân. Nguyên cụ thân sinh ra Hùng Quận công là Tài Quận công, thuở nhỏ có cuộc sống cô đơn nghèo khó, nhưng cụ có thiên tư dũng cảm, tài lực hơn người. Cụ có mẹ già sống ở nhà nên rất lo chăm sóc giữ gìn đạo hiếu, lận đận tìm kế sinh nhai, làm thuê vác mướn kiểm sống qua ngày. Khi lên vùng Yên Thể, bỗng một hôm ở huyện có mối họa lớn do hổ gây ra, trên treo biển niêm yết các nơi mộ tìm người tài trừ hổ gây họa cứu dân, ai giết được hổ tặng thưởng 10 quan tiền. Vì thế, cụ ra sức tìm kế giết hổ, rồi họp với dân tìm chỗ có cây ngọn bằng sào cứng rồi đặt một người bù nhìn mặc quần áo như người thật cầm cây sào ấy đứng đợi, rồi tìm chỗ nấp. Hổ trong rừng ra, liền tấn công bù nhìn. Ngày thứ hai, hổ thấy bù nhìn, lại tấn công tiếp. Đến ngày thứ ba, hổ chán không quay đầu lại nhìn nữa. Thời cơ đã đến, ngày thứ tư, cụ đã cải trang đứng thay chỗ của bù nhìn, khi hổ đến, cụ bèn dùng cây sào cứng đâm thẳng vào yết hầu. Hổ chết, cụ bèn chặt đầu hổ, nhân dân vui mừng vì trừ được mối họa, đã kiệu cụ về làng. Nhận được thưởng, cụ chi trả hết nợ nần, sưu dịch. Sau đó, cụ gửi mẹ già cho bạn hữu, tham gia đánh trận, lập nhiều chiến công.

 

Đôi chó đá thời Lê (Nguồn: Ban QL Di tích Bắc Ninh)

Về Ân Quận công, gia phả còn ghi rõ: Lúc còn nhỏ tuổi, tài lược khí phách hơn người, khi trưởng thành, có chính khí, quyết tâm làm nên sự nghiệp để lưu danh ở đời nên đã lấy việc thao giỏi võ nghệ, cung nỏ, tên đạn làm hướng tiến thân. Đương thời, cụ phụng sự Trịnh Văn tổ Tuyên Vương và theo Tuyên Vương đi đánh Mạc Phúc Thuần ở Cao Bằng nên được miễn bổng sưu thuế, phu đài tạp dịch. Sau cụ lại phụng sự Hoằng tổ Dương Vương đi đánh chúa Nguyễn ở Thạch Hà, Thanh Chương, Nam Hoa... trước sau trải hơn trăm trận, do đó oai danh lừng lẫy, khi xét công thăng cụ là Thự vệ Quận công vào năm 1655-1660.

Trận đánh tháng 10 năm Canh Tý (1660), Ân Quận công chỉ huy, do không thắng trận, chấp nhận lời Trịnh Căn nếu không thắng thì phải chết, ông đã rút gươm tuẫn tiết trước mặt Trịnh Căn tại núi Quyết (nay thuộc TP Vinh, Nghệ An). Chúa Trịnh thương tiếc một con người trung liệt, cho con là Quế Quận công lên thay và cho lập đền thờ cụ Ân Quận công và đặt tên núi quê hương của cụ có tên Dũng Quyết để kỷ niệm trận đánh có một không hai của chúa Trịnh. Hàng năm, nhà Chúa cấp tiền công và sai quan Khâm sai chuẩn bị lễ vật làm lễ chính tế. Đồng thời lại phê chuẩn cho dân xã Dũng Quyết được làm dân tạo lệ, miễn hết sưu thuế, phu phen tạp dịch để lo việc thờ cúng Ân Quận công theo nghi thức nhà nước. Ân Quận công là thần hoàng làng được tôn thờ tại đình làng Dũng Quyết.

Các Quận công khác cũng có chuyện tương tự như vậy được lưu truyền từ đời này sang đời khác đã làm rạng danh dòng họ Nguyễn Đức. Đồng thời cũng là niềm cổ vũ, sự khích lệ con cháu đời sau nỗ lực phấn đấu tiếp bước các bậc tiền bối.

Ngày nay, đất nước đã thống nhất hòa bình, đổi mới đi lên, các thế hệ đi sau đang nắm bắt các cơ hội phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập theo xu hướng toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực, nhịp sống mạnh mẽ, hối hả hơn. Song, không vì thế mà những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của ông cha bị quên lãng. Di tích lịch sử văn hóa với giá trị đích thực của nó góp phần quan trọng trong giáo dục truyền thống lịch sử cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ.

Một số học giả cho rằng muốn học lịch sử tốt, ngoài việc học tập trên lớp, học qua sách vở, việc tham quan thực tế tại các di tích, các bảo tàng là hoạt động không thể thiếu vì các khu di tích - bảo tàng là nơi lưu giữ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc. Tại đây, người xem được trực tiếp thấy những hiện vật cụ thể - những chứng nhân của lịch sử. Nó như những học cụ trực quan sinh động giúp cho việc tiếp thu kiến thức lịch sử dễ dàng và hấp dẫn hơn.

Với ý nghĩa đó, Miếu Đại Trung - một di tích lịch sử văn hóa độc đáo cần được bảo tồn, tôn tạo phát huy giá trị của nó. Để làm việc này:

  1. Cần phải tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân địa phương thấy được giá trị của di tích, từ đó có ý thức bảo vệ, tôn vinh di tích.
  2. Miếu Đại Trung, nơi thờ phụng, ghi nhớ công lao của những vị “sinh vi tướng tử vi thần” (khi sinh thời là tướng đánh giặc giúp nước, khi mất là thần hoàng làng phù hộ, che chở cho dân), là thành hoàng làng của những làng đó, nó có ý nghĩa lưu niệm lịch sử và giá trị văn hóa sâu sắc. Các thế hệ con, cháu trong dòng họ và các cơ quan chức năng của địa phương bằng mọi cách phải tôn tạo và giữ gìn các thành tố nguyên gốc của di tích, hạn chế tối đa mọi sự thay thế, nhất là thay thế bằng chất liệu và vật liệu mới, giải pháp ưu tiên là bảo quản, gia cố và tu bổ di tích.
  3. Các cơ quan, ban ngành của tỉnh Bắc Ninh cần tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quy hoạch các tuyến đường tham quan, đi lại trong cụm di tích (cả Lăng, nhà thờ 18 vị Quận công, Miếu Đại Trung thuộc hai, xã Việt Hùng và Dũng Quyết) sao cho phù họp với tính chất lịch sử của di tích. Cùng với đó, việc xây dựng các công trình phụ trợ và mở rộng diện tích khu vực Miếu Đại Trung là hết sức cần thiết nhằm phát huy giá trị lâu dài của di tích.
  4. Ngành Văn hóa - Thể thao - Du lịch của tỉnh cần triển khai các hoạt động tiếp thị- quảng bá, xây dựng các tuyến, điểm du lịch đặc thù kết nối hệ thống di tích lịch sử trong vùng với những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh khác tại địa phương và trong khu vực, thậm chí trong và ngoài nước thông qua các ẩn phẩm và mạng internet...
  5. Di tích Miếu Đại Trung đã được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1992, nên việc sử dụng và khai thác giá trị di tích Miếu Đại Trung cần tuân thủ Luật Di sản văn hóa đã ban hành năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Bên cạnh việc khuyến khích các hoạt động sử dụng và khai thác di tích nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng, xây dựng giá trị văn hóa mới, làm giàu bản sắc văn hóa truyền thống Kinh bắc, góp phần bổ sung giá trị cho kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, khuyển khích việc sử dụng khai thác di tích để phục vụ nhu cầu du lịch văn hóa, giải trí lành mạnh của nhân dân. Bài trừ các hủ tục, chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong sử dụng và khai thác giá trị di tích.

Miếu Đại Trung cùng với Lăng và Nhà thờ họ Nguyễn Đức đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1992. Đây là cụm di tích độc đáo, tiêu biểu. Việc bảo tồn những giá trị tốt đẹp của Miếu Đại Trung nhằm giữ gìn, phát huy những nét đẹp truyền thống của dòng họ Nguyễn Đức, tôn vinh, tri ân các danh nhân, dũng tướng của dân tộc, góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ hiện nay; trên cơ sở đó xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội địa phương, bảo tồn di sản văn hoá dân tộc.

Trải qua hơn 300 năm, di tích Miếu Đại Trung được bảo tồn và phát huy giá trị đến ngày nay là nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp của tỉnh Bắc Ninh, trực tiếp là ngành vãn hóa, thể thao và du lịch tỉnh, sự tham mưu hiệu quả, thiết thực của Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh. Nhằm tiếp tục phát huy giá trị của di tích, đề nghị các cơ quan quản lý Nhà nước nghiên cứu nâng cấp di tích lịch sử quốc gia Miếu Đại Trung lên hàng “Võ Miếu” cho xứng với tầm vóc và giá trị đích thực của di tích.

Thiếu tướng. TS Nguyễn Xuân Năng
(Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Liên kết website

Số lượng truy cập

Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Đơn vị quản lý: Bảo tàng Lịch sử quốc gia - Giấy phép số: 164/GP-TTĐT cấp ngày: 31/10/2012

Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Văn Cường - Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Địa chỉ: Số 1, Tràng Tiền, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Số 216, Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Email: banbientap@baotanglichsu.vn - Tel/Fax: 84.4.38252853